Xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào Canada và các đối thủ cạnh tranh

Tổng kim ngạch xuất khẩu da giày đạt 16,5 tỷ USD

Đối với nhóm sản phẩm giày dép có đế cao su và phần trên bằng vật liệu tổng hợp (HS 6404), Canada duy trì nhu cầu nhập khẩu ở mức cao và ổn định trong những năm gần đây. Sau khi tăng mạnh và đạt đỉnh vào năm 2022, tổng giá trị nhập khẩu của Canada có sự điều chỉnh trong giai đoạn 2023–2024 nhưng vẫn duy trì quy mô lớn. Đến 10 tháng đầu năm 2025, nhu cầu đã cho thấy dấu hiệu phục hồi trở lại. Trong bối cảnh đó, Việt Nam tiếp tục củng cố vị thế là một trong những nhà cung cấp quan trọng nhất của Canada trong phân khúc này. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng từ khoảng 218 triệu USD năm 2020 lên khoảng 335 triệu USD năm 2024 và đạt trên 360 triệu USD trong 10 tháng đầu năm 2025. Thị phần của Việt Nam trong tổng nhập khẩu mã HS 6404 của Canada cũng gia tăng rõ rệt, từ khoảng 39% năm 2020 lên hơn 44% năm 2024 và xấp xỉ 47% trong 10 tháng đầu năm 2025, cho thấy năng lực cạnh tranh ngày càng được củng cố ngay cả trong giai đoạn tổng cầu thị trường có sự biến động.

Nhu cầu thị trường Canada với giày dép đế cao su mũi tổng hợp
(mã HS 6404)
  2020 2021 2022 2023 2024 10T/2025 %
Việt Nam 218,131 241,475 375,067 326,239 334,650 360,525 28.2
Các nước 345,921 407,868 604,548 471,117 423,309 414,712 15.0
Tổng nhu cầu nhập khẩu 564,052 649,343 979,615 797,355 757,959 775,237 20.8

So với các đối thủ cạnh tranh, Việt Nam đang dần mở rộng thị phần trong phân khúc này khi phần cung từ các nước khác có xu hướng giảm tương đối. Điều này phản ánh lợi thế của Việt Nam không chỉ về chi phí sản xuất mà còn ở khả năng đáp ứng đơn hàng quy mô lớn, chất lượng ổn định và tận dụng hiệu quả các ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại như CPTPP. Trong khi Trung Quốc vẫn là đối thủ lớn, sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu cùng với chi phí sản xuất tăng tại nước này đã tạo điều kiện để Việt Nam gia tăng hiện diện. Các nhà cung cấp khác như Indonesia hay Campuchia có lợi thế nhất định về chi phí, song hạn chế về quy mô và chuỗi cung ứng khiến mức độ cạnh tranh chưa đủ để làm suy giảm vị thế của Việt Nam trong phân khúc HS 6404.

HS 6404 là nhóm sản phẩm phù hợp để đẩy mạnh gia tăng xuất khẩu của Việt Nam với nhu cầu giày thể thao, giày tiện dụng và phong cách sống năng động đang gia tăng tại Canada, đặc biệt trong bối cảnh làm việc linh hoạt sau đại dịch. Đây là phân khúc nằm giữa nhóm giày thời trang cao cấp và giày giá rẻ, cho phép Việt Nam phát huy lợi thế sản xuất đồng thời có cơ hội tham gia sâu hơn vào các khâu giá trị cao như thiết kế và phát triển sản phẩm.

Đối với nhóm sản phẩm giày dép có đế cao su và phần trên bằng da (HS 6403), Canada duy trì nhu cầu nhập khẩu ở quy mô lớn, phản ánh đặc thù khí hậu và xu hướng tiêu dùng các sản phẩm có độ bền cao và giá trị sử dụng dài hạn. Sau khi tăng mạnh và đạt mức cao vào năm 2022, tổng giá trị nhập khẩu của Canada đối với nhóm hàng này đã có sự điều chỉnh trong các năm tiếp theo nhưng vẫn duy trì ở mức đáng kể trong giai đoạn 2023–2024 và 10 tháng đầu năm 2025. Trong bối cảnh đó, Việt Nam tiếp tục gia tăng hiện diện tại thị trường Canada trong phân khúc HS 6403, với kim ngạch xuất khẩu tăng từ khoảng 161 triệu USD năm 2020 lên gần 278 triệu USD năm 2024 và đạt hơn 266 triệu USD trong 10 tháng đầu năm 2025. Thị phần của Việt Nam trong tổng nhập khẩu nhóm hàng này cũng tăng dần, từ khoảng 22% năm 2020 lên gần 27% năm 2024 và xấp xỉ 29% trong 10 tháng đầu năm 2025, cho thấy khả năng cạnh tranh ngày càng được cải thiện ngay cả khi tổng nhu cầu thị trường có sự biến động.

So với nhóm HS 6404, mức độ cạnh tranh trong phân khúc HS 6403 cao hơn do đây là nhóm sản phẩm có giá trị cao hơn và chịu sự chi phối lớn của yếu tố thương hiệu và thiết kế. Trung Quốc vẫn là đối thủ cạnh tranh quan trọng nhờ năng lực sản xuất quy mô lớn và chuỗi cung ứng hoàn chỉnh, trong khi các quốc gia như Indonesia và Ấn Độ có lợi thế về nguồn nguyên liệu da và công nghệ chế biến. Tuy nhiên, Việt Nam đang dần thu hẹp khoảng cách thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm và tham gia sâu hơn vào các đơn hàng trung và cao cấp. Việc duy trì tăng trưởng thị phần trong giai đoạn tổng cầu điều chỉnh cho thấy vị thế của Việt Nam không chỉ dựa trên yếu tố chi phí mà còn phản ánh sự cải thiện về năng lực sản xuất và đáp ứng tiêu chuẩn thị trường.

Nhu cầu thị trường Canada với giày dép đế cao su mũi da
(mã HS 6403)
  2020 2021 2022 2023 2024 10T/2025 %
Việt Nam 161,280 200,400 317,178 270,115 277,922 266,262 10.5
Các nước 586,712 676,954 964,837 836,251 763,666 668,103 0.8
Tổng nhu cầu nhập khẩu 747,992 877,354 1,282,016 1,106,366 1,041,587 934,364 3.4

HS 6403 gắn liền với các dòng sản phẩm như giày công sở, giày bốt và giày thời trang có độ bền cao, vốn có nhu cầu ổn định tại Canada. Đây là phân khúc có tiềm năng mang lại giá trị gia tăng cao hơn cho doanh nghiệp xuất khẩu. Tuy nhiên, để mở rộng thị phần bền vững, các doanh nghiệp Việt Nam cần tăng cường năng lực thiết kế, phát triển sản phẩm và xây dựng thương hiệu nhằm cạnh tranh hiệu quả hơn trong phân khúc có yêu cầu cao về chất lượng và hình ảnh sản phẩm.

Nhu cầu thị trường Canada với giày dép đế và mũi cao su hoặc plastic
(mã HS 6402)
  2020 2021 2022 2023 2024 10T/2025 %
Việt Nam 64,864 75,139 110,831 100,697 121,744 123,717 20.8
Các nước 310,110 361,731 535,526 462,792 468,789 423,317 6.5
Tổng nhu cầu nhập khẩu 374,973 436,870 646,357 563,489 590,533 547,034 9.5

Đối với nhóm sản phẩm giày dép có đế và phần trên bằng cao su hoặc nhựa (HS 6402), Canada duy trì nhu cầu nhập khẩu ổn định, phản ánh đặc tính phổ biến của phân khúc giày phổ thông và giày tiêu dùng hàng ngày. Tổng giá trị nhập khẩu của Canada đối với nhóm hàng này tăng đều từ khoảng 375 triệu USD năm 2020 lên khoảng 591 triệu USD năm 2024 và đạt trên 547 triệu USD trong 10 tháng đầu năm 2025. Trong bối cảnh đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Canada trong nhóm HS 6402 cũng ghi nhận xu hướng tăng trưởng tích cực, từ khoảng 65 triệu USD năm 2020 lên gần 122 triệu USD năm 2024 và đạt khoảng 124 triệu USD trong 10 tháng đầu năm 2025. Thị phần của Việt Nam trong tổng nhập khẩu nhóm hàng này vì vậy đã tăng từ khoảng 17% năm 2020 lên trên 20% năm 2024 và xấp xỉ 23% trong 10 tháng đầu năm 2025.

Đây là phân khúc có mức độ cạnh tranh cao do đây là nhóm sản phẩm phổ thông, nhạy cảm về giá, thu hút sự tham gia mạnh của các nhà cung cấp có lợi thế chi phí thấp như Trung Quốc, Indonesia và một số quốc gia Nam Á như Bangladesh, Srilanka. Tuy nhiên, để mở rộng thị phần, Việt Nam cần tăng cường khả năng đáp ứng các đơn hàng lớn và ổn định, cũng như tận dụng các ưu đãi thương mại để duy trì sức cạnh tranh trong phân khú. Việc thị phần tăng lên trong bối cảnh cạnh tranh về giá gay gắt cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam đã phần nào cải thiện năng lực sản xuất và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Nếu cần trao đổi thêm, xin liên hệ Thương vụ Việt Nam tại Canada theo địa chỉ ca@moit.gov.vn