Canada nhập khẩu trung bình khoảng trên 2 tỷ USD/năm, trong đó file cá đông lạnh và tôm đông lạnh là hai sản phẩm chủ yếu. Năm 2024, Canada nhập khẩu mã HS 0304 lên đến 821 triệu USD và mã 0306 lên đến 796 triệu USD. Mười nước xuất khẩu thuỷ sản chủ yếu vào Canada lần lượt là: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Chile, Nauy, Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia, Iceland, Nhật Bản và Thái Lan.
| Nhu cầu nhập khẩu thuỷ sản của Canada (triệu USD) | |||||||
| 2020 | 2021 | 2022 | 2023 | 2024 | 10T/2025 | % | |
| Mã HS 0306 | 644,692 | 982,672 | 839,449 | 712,722 | 795,935 | 662,509 | -0.3 |
| Mã HS 0303 | 183,160 | 268,239 | 280,598 | 223,549 | 247,149 | 250,496 | 22.6 |
| Mã HS 0304 | 655,075 | 789,421 | 959,595 | 814,332 | 821,113 | 783,363 | 14.6 |
| Mã HS 0305 | 95,890 | 96,071 | 123,549 | 112,892 | 110,928 | 85,029 | -4.2 |
| Mã HS 0307 | 154,323 | 188,164 | 225,662 | 175,480 | 183,254 | 178,381 | 17.5 |
Kể từ sau CPTPP, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Canada giảm nhẹ 0.5% (giai đoạn 2018-2021), sự sụt giảm này là do bối cảnh Covid làm tăng chi phí vận chuyển và đứt gẫy nguồn cung nội tại của Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam đã tụt xuống là nhà xuất khẩu lớn thứ 4 vào thị trường Canada, sau Chile, chiếm 6% thị phần nhập khẩu thuỷ sản của Canada. Tuy nhiên, ngay sau đó, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đã tăng mạnh vào năm 2022 (45%, đạt 235 triệu USD), đưa Việt Nam trở lại vị trí là nhà xuất khẩu lớn thứ ba vào địa bàn, vượt Chile. Hiện nay, trung bình mỗi năm Việt Nam xuất khẩu khoảng trên 160 triệu USD các mặt hàng thuỷ sản sang địa bàn. 10 tháng đầu năm 2025, thủy sản tươi/đông lạnh (Chương 03) ghi nhận tăng trưởng rất khiêm tốn so với cùng kỳ năm ngoái (0.3%), đạt 149 triệu USD. Hàng năm, Canada có nhu cầu nhập khẩu khoảng trên 2 tỷ USD từ các nước. Hiện nay Việt Nam đứng vị trí thứ 5, với thị phần khoảng 7%, sau Hoa Kỳ, Trung Quốc, Chi lê và Na Uy. Đối với thủy sản chế biến (16), Việt Nam ghi nhận sự gia tăng mạnh (17.6%) so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 86 triệu USD, đứng sau Hoa Kỳ và Thái Lan. Quy mô thị trường thuỷ sản chế biến của Canada khoảng trên 1.6 tỷ USD/năm. Các nước ghi nhận mức tăng trưởng xuất khẩu mã HS 16 rất cao vào thị trường trong năm nay là Indonesia (65%), Philippines (22%), Brazil (73%).
Trong các loại thuỷ sản Canada nhập từ Việt Nam, ngoài mã HS 0304 và 0306, Canada có nhập cả cá đông lạnh nguyên con (HS 0303), một số thuỷ hải sản khô (HS 0305) và động vật thuỷ sinh khác (hải sâm, sứa, mã HS 0307) nhưng giá trị không đáng kể, gộp chung lại, 10 tháng năm 2025, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 17 triệu USD vào địa bàn, tăng 4.7%. Việt Nam hầu như không có thế mạnh với các sản phẩm thuộc nhóm mã HS 0301, 0302 và 0308 (chưa đến 1 triệu USD/năm).
Hai mã 0304 (Cá file đông lạnh) và 0306 (tôm đông lạnh) là sản phẩm Canada có nhu cầu nhập khẩu cao nhất, chiếm trên 65% tổng nhu cầu nhập khẩu thuỷ sản của Canada và cũng là hai sản phẩm Việt Nam có thế mạnh và hiện là sản phẩm thuỷ sản chủ lực của thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu sang địa bàn.
| Các đối thủ cạnh tranh chính mã HS 0304 | ||||
| 10T/2024 | 10T/2025 | Tăng trưởng | Thị phần | |
| Chile | 185,629 | 200,346 | 7.9% | 25.6% |
| China | 121,400 | 177,639 | 46.3% | 22.7% |
| United States | 99,835 | 94,955 | -4.9% | 12.1% |
| Norway | 72,543 | 89,662 | 23.6% | 11.4% |
| Vietnam | 62,693 | 73,123 | 16.6% | 9.3% |
| Indonesia | 33,499 | 38,538 | 15.0% | 4.9% |
| Iceland | 18,924 | 20,876 | 10.3% | 2.7% |
| Colombia | 13,190 | 12,996 | -1.5% | 1.7% |
| Argentina | 8,980 | 9,543 | 6.3% | 1.2% |
| Thailand | 6,973 | 6,384 | -8.4% | 0.8% |
Việt Nam hiện đứng thứ 5 về thị phần đối với sản phẩm cá file đông lạnh tại Canada (khoảng 9%). Hiện nay, cạnh tranh chủ yếu cùng Việt Nam đối với mã HS 0304 là Trung Quốc, Chile, Na Uy và Indonesia. Có thể thấy, nhu cầu với cá file (cá hồi đại dương, cá hồi vịnh và các dòng cá troute béo) của Canada tăng nhanh qua các năm trong khi nhu cầu nhập khẩu với các dòng cá nước ngọt, cá pangasius và cá ngừ tăng không nhiều, thậm chí còn giảm. Mã HS 0304 là mặt hàng Canada có nhu cầu tăng đều qua các năm, Việt Nam có nhiều lợi thế để không chỉ nâng cao kim ngạch, mà còn mở rộng thị phần trong bối cảnh Canada muốn giảm mạnh nhập khẩu từ Trung Quốc. Trong 10 tháng đầu năm 2025, với đà tăng 16.6% so với cùng kỳ năm 2024, xuất khẩu mã HS 0304 đã đạt 73 triệu USD và nếu tiếp tục với đà tăng này, dự kiến năm 2025, Việt Nam có thể xuất khẩu trên 90 triệu USD.
| Các đối thủ cạnh tranh chính mã HS 0306 | ||||
| 10T/2024 | 10T/2025 | Tăng trưởng | Thị phần | |
| United States | 288,435 | 255,441 | -11.4% | 38.6% |
| India | 116,534 | 130,252 | 11.8% | 19.7% |
| Vietnam | 69,624 | 58,720 | -15.7% | 8.9% |
| China | 37,148 | 45,562 | 22.6% | 6.9% |
| Ecuador | 25,160 | 35,016 | 39.2% | 5.3% |
| Indonesia | 13,469 | 29,830 | 121.5% | 4.5% |
| Re-Imports (Canada) | 12,455 | 20,961 | 68.3% | 3.2% |
| Thailand | 20,849 | 18,588 | -10.8% | 2.8% |
| Norway | 24,328 | 18,474 | -24.1% | 2.8% |
| Argentina | 19,897 | 17,661 | -11.2% | 2.7% |
Việt Nam hiện đứng thứ 3 về thị phần đối với sản phẩm mã HS 0306 (tôm) tại Canada (khoảng 9%), sau Hoa Kỳ, Ấn Độ. Hiện nay, cạnh tranh chủ yếu cùng Việt Nam đối với mã HS 0306 là Trung Quốc, Ecuador và Indonesia. Có thể thấy, nhu cầu của thị trường Canada với mã HS 0306 là không ổn định, trồi sụt qua các năm. Cá biệt năm 2021, Canada nhập khẩu lên đến gần 1 tỷ USD nhưng nhu cầu của thị trường chỉ dao động trong khoảng 750-800 triệu USD/năm. 10 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu mã HS 0306 đã giảm đến 15.7%. Việt Nam cũng đang gặp phải 2 đối thủ cạnh tranh đặc biệt mạnh là Ecuador và Indonesia trong nhóm sản phẩm tôm thẻ chân trắng và tôm sú. Ecuador đang phát triển mạnh năng lực nuôi trồng tôm, hiện nay Ecuador đang xuất khẩu vào Canada theo mức thuế MFN nhưng do vị trí gần, giá cạnh tranh, mắc tăng trưởng xuất khẩu của Ecuador rất cao (39% trong 10 tháng đầu năm 2025). Tương tự như vậy, Indonesia với ưu thế ký kết Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Canada, xuất khẩu của Indonesia vào thị trường Canada tăng đột biến trong nhiều lĩnh vực mặt hàng, trong đó có thuỷ sản và tôm đông lạnh (tăng đến 122%). Vì vậy, để giữ vững thị phần và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang địa bàn, nhất là trong bối cảnh nhu cầu của địa bàn không ổn định, các doanh nghiệp càng cần chú trọng tìm các hướng đi mới, vừa đảm bảo chất lượng, hạ giá thành, vừa hướng đến xuất khẩu các sản phẩm thuỷ sản organic và nhất là tìm cách chế biến sâu.





