Nâng cấp Đối tác chiến lược: khơi thông liên kết công nghiệp Việt Nam – Canada

Nhân chuyến thăm cấp Nhà nước lịch sử tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, mở ra triển vọng nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược, hợp tác công nghiệp đang nổi lên như một trụ cột có dư địa lớn. Sự kết hợp giữa vật liệu phát thải thấp, công nghệ nguồn của Canada với năng lực chế tạo ngày càng được nâng cao của Việt Nam, trên nền tảng CPTPP, hứa hẹn đưa doanh nghiệp hai nước vào sâu hơn các chuỗi giá trị toàn cầu.

Nền tảng thuận lợi, kết quả chưa tương xứng

Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm diễn ra vào thời điểm cả hai nền kinh tế đều đang tìm kiếm những động lực tăng trưởng và những đối tác tin cậy mới trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động sâu sắc. Trong khuôn khổ quan hệ Đối tác toàn diện được thiết lập từ năm 2017, hợp tác công nghiệp giữa Việt Nam và Canada được định hình và thúc đẩy thông qua các thiết chế nhiều tầng nấc, tiêu biểu là cơ chế Ủy ban Hỗn hợp về Kinh tế (JEC) được thành lập từ năm 2022 và Hiệp định CPTPP. Tại kỳ họp lần thứ ba của Ủy ban Hỗn hợp về Kinh tế (JEC 3) diễn ra vào tháng 6 năm 2026 tại Ottawa, hai chính phủ đã đưa ra những cam kết cụ thể nhằm chuyển dịch mạnh mẽ từ cơ chế đối thoại chính sách sang giai đoạn hợp tác hành động thực chất, xác định liên kết công nghiệp, công nghiệp phụ trợ, đổi mới công nghệ và phát triển chuỗi cung ứng bền vững là những trọng tâm ưu tiên hàng đầu. Tại JEC 3, hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hỗ trợ kết nối doanh nghiệp vừa và nhỏ, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực mới nổi như công nghiệp hỗ trợ bán dẫn, cơ khí chính xác, vật liệu công nghiệp carbon thấp và tích hợp hạ tầng giao thương xuyên Thái Bình Dương.

Mặc dù đã có nền tảng thể chế và các định hướng cấp chính phủ rất thuận lợi, hiện trạng hợp tác công nghiệp giữa hai nước nhìn chung vẫn còn ở mức độ khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng và quy mô của hai nền kinh tế. Năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đạt 8,6 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Canada lần đầu tiên vượt ngưỡng 7,5 tỷ USD; tính đến tháng 8/2026, Canada có 321 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký khoảng 4,92 tỷ USD, xếp thứ 14 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Hoạt động giao thương công nghiệp song phương hiện nay chủ yếu vẫn tập trung vào các mặt hàng thành phẩm tiêu dùng hoặc linh kiện điện tử gia công thông thường. Các dự án đầu tư trực tiếp (FDI) quy mô lớn của Canada vào các ngành chế tạo công nghệ cao tại Việt Nam còn rất hạn chế; ngược lại, sự hiện diện của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Việt Nam tại thị trường Canada mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu. Hai bên hầu như chưa hình thành được các chuỗi liên kết sản xuất xuyên quốc gia chặt chẽ để cùng chia sẻ công nghệ nguồn, liên danh gia công sâu hay tối ưu hóa quy tắc xuất xứ cộng gộp nội khối theo CPTPP.

Tuy nhiên, Canada đang tái định hình chính sách công nghiệp theo hướng củng cố năng lực tự chủ, tập trung vào khoáng sản thiết yếu, năng lượng, hàng không vũ trụ, bán dẫn và trí tuệ nhân tạo. Đồng thời, Canada đẩy mạnh đa dạng hóa thương mại ra ngoài thị trường Hoa Kỳ, với mục tiêu tăng gấp đôi xuất khẩu sang các thị trường ngoài Hoa Kỳ trong vòng một thập kỷ, và triển khai Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương để tìm kiếm các đối tác sản xuất tin cậy ngoài Bắc Mỹ. Những chuyển động này đang gặp gỡ rất thuận lợi với nhu cầu nâng cao năng lực tự chủ công nghiệp và giá trị gia tăng của Việt Nam theo tinh thần các Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới và số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân.

Những mảnh ghép bổ trợ cho nhau

Nền tảng công nghiệp của Canada được xây dựng dựa trên sự kết hợp độc đáo giữa nguồn tài nguyên khoáng sản chiến lược dồi dào, hệ thống năng lượng sạch phát thải thấp và năng lực nghiên cứu phát triển hàng đầu trong các ngành công nghệ cao, chế tạo chính xác. Trong bức tranh kinh tế quốc tế nhiều biến động, Canada đang tích cực củng cố các ngành công nghiệp nền tảng và tái cơ cấu mạng lưới sản xuất, tìm kiếm sự liên kết sâu rộng hơn với các đối tác thương mại tin cậy tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Ở chiều ngược lại, Việt Nam đã vươn lên thành một trong những trung tâm sản xuất chế tạo, gia công cơ khí chính xác và lắp ráp vi điện tử năng động hàng đầu khu vực, với khu vực doanh nghiệp trong nước ngày càng làm chủ các khâu thiết kế, phần mềm và công nghệ. Sự tương thích giữa thế mạnh công nghệ, vật liệu của Canada và năng lực chế tạo của Việt Nam mở ra không gian rộng lớn để hai bên không chỉ mua bán, gia công cho nhau mà còn cùng đầu tư, đồng phát triển sản phẩm và chuyển giao công nghệ, qua đó cùng nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Một trong những thế mạnh công nghiệp nổi bật của Canada là ngành luyện kim, với bề dày phát triển hơn một thế kỷ ở cả luyện kim đen và luyện kim màu. Canada sở hữu các tổ hợp luyện thép lớn tại Ontario (Hamilton, Sault Ste. Marie) với thế mạnh về thép tấm, thép hợp kim và thép chất lượng cao phục vụ công nghiệp ô tô, năng lượng và xây dựng, cùng hệ thống nghiên cứu vật liệu kim loại chuyên sâu như phòng thí nghiệm CanmetMATERIALS. Các tổ hợp này đang đầu tư chuyển đổi sang công nghệ lò điện hồ quang và hoàn nguyên trực tiếp nhằm giảm mạnh phát thải. Ở lĩnh vực luyện kim màu, Canada là nhà sản xuất lớn về nhôm, nickel, đồng và kẽm; nhờ nguồn thủy điện dồi dào, nhất là tại Québec, nhôm của Canada thuộc nhóm có dấu chân carbon thấp nhất thế giới, và Canada cũng đang đi đầu trong phát triển công nghệ luyện nhôm không phát thải khí nhà kính trực tiếp (ELYSIS).

Đây là lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu hợp tác rất lớn. Dù đã có quy mô sản xuất thép thô đáng kể trong khu vực, ngành luyện kim Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào công nghệ, thiết bị nhập khẩu và chưa làm chủ được công nghệ luyện các mác thép hợp kim, thép chất lượng cao phục vụ chế tạo máy, năng lượng và công nghiệp hỗ trợ. Hợp tác với Canada có thể mở ra hướng chuyển giao công nghệ luyện kim và luyện thép xanh, hợp tác nghiên cứu vật liệu kim loại tiên tiến và đào tạo đội ngũ kỹ sư luyện kim, qua đó giúp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ trong một ngành công nghiệp nền tảng. Đồng thời, các nhà máy cơ khí, đúc kim loại, bao bì và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam đang cần tiếp cận nguồn vật tư đạt tiêu chuẩn môi trường khắt khe nhằm đáp ứng các rào cản xanh của thị trường quốc tế, tiêu biểu là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu, chính thức áp dụng nghĩa vụ tài chính từ năm 2026 đối với nhôm, sắt thép và một số sản phẩm khác. Nguồn vật liệu phát thải thấp từ Canada có thể trở thành yếu tố đầu vào quan trọng giúp nâng cao chuẩn mực sinh thái và sức cạnh tranh cho các sản phẩm cơ khí hoàn thiện xuất khẩu sang EU và các thị trường có yêu cầu cao về tiêu chuẩn môi trường.

Trong lĩnh vực cơ khí chính xác, Canada sở hữu hệ sinh thái công nghệ cao với các tiêu chuẩn an toàn và kiểm định đạt chuẩn quốc tế khắt khe. Thế mạnh này trải rộng từ công nghiệp hàng không vũ trụ với các dòng máy bay phản lực thương gia, động cơ tuabin và vật liệu composite siêu nhẹ; công nghiệp ô tô với công nghệ tự động hóa dây chuyền lắp ráp; đến các giải pháp cảm biến, robot và cơ khí chính xác chuyên dụng. Đặc biệt, Canada là quốc gia sở hữu công nghệ lò phản ứng CANDU và là quốc gia G7 đầu tiên triển khai xây dựng lò phản ứng module nhỏ (SMR) nối lưới tại Darlington (Ontario), lĩnh vực đòi hỏi quy trình chế tạo cơ khí dạng module chuẩn hóa tại nhà máy sản xuất.

Năng lực này bổ trợ tốt cho hệ thống nhà xưởng cơ khí, gia công tiện, phay CNC, dập, sản xuất dây cáp điện và gia công đúc kim loại của Việt Nam. Đây là dư địa thuận lợi để các nhà sản xuất cơ khí trong nước nâng chuẩn kỹ thuật, tham gia vào các mạng lưới thầu phụ cung ứng linh kiện cấp hai, cấp ba cho các ngành công nghiệp hàng không, phương tiện giao thông và chuỗi cung ứng chế tạo thiết bị cho các dự án SMR quốc tế.

Đối với ngành hóa chất, hóa dầu và vật liệu pin, Canada nắm giữ nguồn nguyên liệu hydrocarbon dồi dào từ dầu cát và khí tự nhiên cùng trữ lượng khoáng sản thiết yếu phong phú, đưa nước này trở thành nhà cung cấp lớn về hóa chất cơ bản và dẫn đầu thế giới về phân bón kali, đồng thời đang hình thành năng lực tinh chế các hợp chất phục vụ sản xuất pin như lithium hydroxide hay nickel sulfate. Năng lực này gặp gỡ nhu cầu nguyên liệu đầu vào rất lớn của các ngành phân bón, hóa chất, nhựa kỹ thuật và sản xuất pin xe điện tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, vị thế dồi dào về tài nguyên khoáng sản của hai nước tạo nên sự bổ trợ tự nhiên: trong khi Canada là một trong những nhà cung cấp hàng đầu thế giới về kim loại phục vụ chuyển dịch năng lượng và uranium, thì Việt Nam lại sở hữu tiềm năng lớn về đất hiếm và vonfram. Sự kết hợp này mở ra tiềm năng hợp tác trong việc tiếp nhận công nghệ tinh luyện sâu, chia sẻ tiêu chuẩn kỹ thuật và cùng nghiên cứu phát triển các dòng vật liệu tiên tiến phục vụ các ngành công nghiệp tương lai.

Ở phân khúc công nghệ cao, bán dẫn và trí tuệ nhân tạo, Canada là một trong những trung tâm sáng tạo hàng đầu về nghiên cứu thuật toán AI, thiết kế vi mạch quang học (photonics) và bán dẫn hợp chất công suất cao. Trong khi đó, Việt Nam khẳng định vị thế vững chắc trong khâu đóng gói, kiểm thử vi mạch bán dẫn (ATP) và sản xuất thiết bị phần cứng điện tử quy mô lớn, đồng thời đang đẩy mạnh năng lực thiết kế vi mạch theo Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Mô hình hợp tác nghiên cứu phát triển và thương mại hóa giữa các viện thiết kế công nghệ cao của Canada với các tổ hợp sản xuất chế tạo vi điện tử tại Việt Nam sẽ là chìa khóa kết nối hai nền kinh tế từ khâu ý tưởng đến thành phẩm thực tế. Đồng thời, các giải pháp phần mềm tự động hóa sản xuất và tối ưu hóa chuỗi cung ứng từ Canada có thể được ứng dụng để nâng cao hiệu quả vận hành cho các khu công nghiệp tại Việt Nam.

Ngoài các ngành chế tạo, chế biến thực phẩm và công nghệ sinh học cũng là lĩnh vực có sự bổ trợ tự nhiên nhờ khác biệt về điều kiện khí hậu. Việc kết hợp nguồn nguyên liệu ôn đới chất lượng cao của Canada như lúa mì, hạt cải dầu, đậu tương, đạm động vật với nông sản nhiệt đới, thủy hải sản và nguồn sinh khối dồi dào của Việt Nam, cùng công nghệ bảo quản lạnh và chế biến sinh học tiên tiến, mở ra hướng phát triển các dòng thực phẩm giá trị gia tăng cao và các mô hình kinh tế tuần hoàn.

Từ tiềm năng đến chuỗi giá trị chung

Nhìn một cách tổng thể, sự bổ trợ công nghiệp giữa Việt Nam và Canada không chỉ dừng lại ở ranh giới của các dự án đơn lẻ, mà có thể phát triển thành các chuỗi giá trị tích hợp hoàn chỉnh dựa trên khuôn khổ Hiệp định CPTPP và các cam kết hội nhập của hai nước.

Việc tận dụng nguồn vật liệu phát thải thấp, hóa chất tinh khiết và công nghệ nguồn từ Canada kết hợp với năng lực gia công cơ khí chính xác, lắp ráp linh kiện và tối ưu hóa chi phí sản xuất tại Việt Nam mang lại lợi ích kép. Một mặt, cơ chế cộng gộp xuất xứ của CPTPP cho phép nguyên liệu, linh kiện có xuất xứ Canada được tính vào hàm lượng nội khối, giúp sản phẩm hoàn thiện tại Việt Nam thuận lợi hơn trong việc đáp ứng quy tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu sang Canada, Nhật Bản, Vương quốc Anh, Mexico, Australia và các thành viên khác. Mặt khác, đầu vào phát thải thấp giúp sản phẩm Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn carbon và ESG ngày càng khắt khe tại EU và các thị trường ngoài khối. Đây chính là cầu nối quan trọng giúp doanh nghiệp hai nước mở rộng không gian tăng trưởng, khẳng định thương hiệu và vươn sâu vào các thị trường lớn.

Để hiện thực hóa tiềm năng này, hai bên có thể tập trung vào một số hướng ưu tiên: (i) hình thành cơ chế trao đổi chuyên trách về liên kết công nghiệp và chuỗi cung ứng trong khuôn khổ JEC, gắn với việc theo dõi thực thi kết quả JEC 3; (ii) triển khai chương trình kết nối nhà cung ứng Việt Nam với các tập đoàn Canada trong các ngành hàng không, ô tô, thiết bị năng lượng và SMR, kèm hỗ trợ đạt chứng nhận tiêu chuẩn kỹ thuật; (iii) hợp tác về tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp, nâng cao năng lực chứng nhận cho doanh nghiệp Việt Nam trong các lĩnh vực hàng không, thiết bị điện, linh kiện máy móc, cũng như chứng nhận dấu chân carbon của vật liệu; (iv) thúc đẩy đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các dự án R&D chung về tự động hóa sản xuất và vật liệu mới, kết nối vườn ươm, trung tâm đổi mới sáng tạo và trung tâm công nghệ của hai nước để hình thành các liên danh sản xuất và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; (v) hình thành chuỗi giá trị pin và vật liệu tiên tiến, liên kết nguồn tiền chất pin của Canada với sản xuất pin tại Việt Nam và hợp tác công nghệ chế biến sâu vật liệu; và (vi) tăng cường quảng bá, hướng dẫn doanh nghiệp tận dụng quy tắc cộng gộp xuất xứ của CPTPP để cùng xây dựng chuỗi giá trị chung. Bên cạnh đó, hai bên có thể khuyến khích các tổ chức tài chính phát triển và tín dụng xuất khẩu của Canada như FinDev Canada, EDC tham gia các dự án khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái tại Việt Nam, đồng thời thúc đẩy hợp tác nghiên cứu về chế biến sâu khoáng sản thiết yếu và thiết kế vi mạch giữa các viện nghiên cứu, trường đại học của hai nước.xa

Việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược sẽ tạo khuôn khổ chính trị vững chắc để các định hướng này sớm đi vào thực chất, đưa hợp tác công nghiệp trở thành một trong những trụ cột của quan hệ Việt Nam – Canada trong giai đoạn mới.

TS. Trần Thu Quỳnh, Tham tán Thương mại, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Canada

Nếu cần trao đổi thêm, xin liên hệ Thương vụ Việt Nam tại Canada theo địa chỉ ca@moit.gov.vn